Những câu chuyện huyền thoại và sự thật về hổ phách
Hổ phách có một nét quyến rũ độc đáo và có nhiều câu chuyện huyền bí xung quanh nó. Hổ phách có thể chứa muỗi và vi khuẩn đã được bảo tồn, nhưng không có chuyện máu khủng long được lưu trữ trong dạ dày của muỗi. Thời gian gần đây hổ phách đã được biết đến nhiều hơn bởi cuốn sách và bộ phim, Công viên kỷ Jura, trong đó có chi tiết là DNA được bảo tồn từ máu khủng long nằm trong xác con muỗi, được sử dụng để tái sinh khủng long. Công nghệ mới đã cho phép trích suất DNA từ động vật và côn trùng bị mắc kẹt trong hổ phách.
Vào tháng 5 năm 1995, nhà vi trùng học Raul Cano tuyên bố ông đã hồi sinh thành công bào tử vi khuẩn từ một con ong dú (ong lỗ) được bảo tồn bên trong hổ phách từ 25 đến 40 triệu năm trước. Hổ phách cung cấp một lớp vỏ yếm khí bảo vệ cả ong và vi khuẩn. Vi khuẩn này tương tự về mặt di truyền với một loại vi khuẩn hiện đại có tên Bacillus sphaericus và trong điều kiện khắc nghiệt, chúng có khả năng ngừng di chuyển, ngừng ăn và sinh sản, để tồn tại mà không cần không khí hoặc nước. Công việc được tiến hành tại Đại học bang Bách khoa California, San Luis Obispo, California, Hoa Kỳ, tại đây đã phân tách được DNA và vi sinh vật cổ đại. Hai bài báo đã được công bố là Đa dạng vi sinh vật bị nhốt trong hổ phách (Greenblatt, CL, Davis, A., Clement, BG, Kitts, CL, Cox, T., và Cano, RJ (1999), tạp chí Sinh thái vi vi sinh vật, Số 38, trang 58 – 68). Và Staphylococcus succinus sp. nov. – một loại tụ cầu khuẩn, bị nhốt trong hổ phách Dominican (Lamber, LH, Cox, T., Mitchell, K., Rossello-Mora, RA, DelCueto, C., Dodge, DE, Orkand, P., và Cano, RJ (1998), tạp chí quốc tế về vi sinh học hệ thống và tiến hóa, Số 48, trang 511 – 518).
![]() | Hình ảnh vị tiến sĩ và viên hổ phách được cho là chứa DNA khủng long trong thân một con muỗi. (theo giả thuyết của phim Công viên kỷ Jura). |
Một số nhà khoa học hoài nghi và hỏi liệu các vi khuẩn này là cổ xưa hay chỉ là các sinh vật hiện đại phát triển bằng các thiết bị trong phòng thí nghiệm. Để thiết lập tính xác thực trong khoa học, thì việc tái thực hiện qui trình thí nghiệm hồi sinh vi khuẩn cổ xưa là rất quan trọng. Raul Cano và đồng nghiệp Monica Borucki nhận thức được những lời hoài nghi mà họ có thể gặp phải nên họ đã tái phân tách và phát triển bào tử trong một môi trường vô trùng cao. Nếu những công bố của Cano có thể được chứng minh thì ông sẽ là người đầu tiên hồi sinh cuộc sống từ quá khứ. Liệu nghiên cứu này có bất kỳ giá trị thực tế nào không? Vâng! Kháng sinh chống vi trùng có thể được sàng lọc từ các vi khuẩn và được sử dụng để thay thế các kháng sinh đang trở nên không hiệu quả khi các vi khuẩn gây bệnh phát triển hơn kháng sinh penicillin. Nghiên cứu về sự hồi sinh vi khuẩn cổ đại cũng có thể góp phần tìm hiểu biết về sự tiến hóa.

Hổ phách dùng làm thuốc
Mật ong được trộn với hổ phách dạng bột và được kê toa cho bệnh hen suyễn, bệnh gút và bệnh dịch hạch. Mặt dây chuyền hổ phách được đeo để bảo vệ sự trong trắng, và được sử dụng làm chuỗi tràng hạt hoặc bùa chống lại các thế lực xấu xa và đen tối.



Hổ phách bị đốt cháy cùng với các loại nhựa cây chưa hóa thạch, như frankincense – nhũ hương, myrrh – mộc dược và copal để xua tan tà ma và xua đuổi những côn trùng thường gặp như muỗi, …. Các thủy thủ đốt hổ phách trên tàu để xua đuổi rắn biển và những hiểm họa từ biển sâu. Ngày nay hổ phách vẫn được sử dụng làm thuốc! Các sản phẩm dược vẫn được mua gần đây ở Ba Lan.
![]() | Tinh dầu hổ phách được cho là có tác dụng tốt cho sức khỏe con người. |
Hổ phách trong văn học
Hổ phách được liệt kê là một trong số các đồ trang trí quý giá khác của Homer trong sử thi Odyssey. Nó được đề cập trong các văn liệu của các nhà khoa học cổ đại như Aristotle, Plato, Theophrastus, Tacitus và Strabo. Pliny the Elder – nhà khoa học thời cổ đại đã viết một chuyên luận lịch sử tự nhiên và giải thích nguồn gốc hổ phách. Các tính chất độc đáo của hổ phách được trình bày trong các luận án khoáng vật học đầu tiên của Al Biruni (972 – 1068), Albertus Magnus (1193 – 1280) và Georgius Agricola (1492 – 1555). Tác phẩm của N. Sendelius, “Historia succinorum corpora aliena involventium” (1742) chứa những mô tả và minh họa tuyệt vời về các tạp chất xác động vật trong bộ sưu tập hoàng gia ở Dresden, thuộc sở hữu của Augustus II the Strong. Đối với một số thần thoại Hy Lạp, Lithuanian và Bắc Âu đều có những câu chuyện liên quan với hổ phách, hãy đọc một số câu chuyện của Bruce Knuth.
Copal: Một loại nhựa chưa hoàn toàn hóa thạch và còn nhiều tranh cãi
Copal không phải là nhựa hóa thạch, nó chưa đủ cứng để được gọi là hổ phách, mà là một loại nhựa chưa trưởng thành, hình thành gần đây. Càng ngày, copal càng được rao bán, thông qua các dịch vụ đấu giá trực tuyến, các hội chợ đá quý và các cửa hàng, chúng được miêu tả sai là “hổ phách”.
![]() |
| Nhìn dáng vẻ bên ngoài thì copal hoàn toàn giống với hổ phách, nên việc nhầm lẫn là khó tránh khỏi. |
Giá trị thương mại của hổ phách liên quan đến sự khan hiếm, tuổi hình thành, bao thể là các loài đã tuyệt chủng và độ bền. Thật không may, một số thương nhân lại quan tâm nhiều đến lợi nhuận kinh tế cao, thay vì quan tâm tìm hiểu nhựa của họ có hóa thạch chưa hay chỉ là nhựa mới hình thành gần đây. Diễn đàn về hổ phách đã có cuộc thảo luận tích cực, bắt đầu vào tháng 10 năm 1999, liên quan đến nhựa Colombia, được rao bán là hổ phách tại một trang web đấu giá nổi tiếng. Nhiều trang web về hổ phách, hiện nay vẫn tồn tại, từ thương mại đến giáo dục, nhưng chỉ một số ít trang có thông tin về copal. Nhầm lẫn là không thể tránh khỏi. Thử tìm kiếm nhanh về “copal” trên internet sẽ tìm được một trang web cung cấp hình ảnh về chất Titanic (được cung cấp bởi trang web Copal), được điều hành và sản xuất kinh doanh từ công ty Nidec Copal ở Malaysia và một trang web về các sản phẩm liên quan đến kháng nguyên, miễn dịch?! Để trả lời cho các cuộc thảo luận trên diễn đàn về hổ phách và nhiều câu hỏi qua email, phần bổ sung này vào Thế giới hổ phách sẽ cung cấp một số thông tin và tài liệu tham khảo từ một số chuyên gia về hổ phách liên quan đến định nghĩa của nhựa và đặc biệt là copal, nhựa chưa hóa thạch và những tranh cãi xung quanh nhựa cây.
Patty Rice: “Chất thay thế lâu đời nhất được biết đến với hổ phách là copal, một loại nhựa có vẻ ngoài rất giống hổ phách” (Rice, 1993, trang 219). Thuật ngữ “copal” có nguồn gốc từ “copalli”, một từ tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là hương thơm, đó là những gì copal được sử dụng trong vecni – sơn dầu. Rice (1993) cho biết copal có thể xuất hiện ở dạng bán hóa thạch hoặc dạng chất nhựa dính, thường có tuổi hình thành từ 1.000 đến 100 tuổi (trang 220). Copal có thể phát huỳnh quang màu trắng dưới ánh sáng cực tím sóng ngắn (hổ phách thường phát huỳnh quang màu xanh hoặc màu vàng) và nó có chứa các loài thực vật và động vật còn tồn tại (trái ngược với các dạng tuyệt chủng được tìm thấy trong hổ phách). Một thử nghiệm để so sánh copal với hổ phách là bằng cách nhỏ một giọt ether – ete – C4H10O, nó bay hơi nhanh trên hổ phách khiến nó không bị ảnh hưởng, trong khi nó làm cho copal và các loại nhựa hình thành gần đây bị chảy và hơi dính tay (Rice, 1995, trang 141).
![]() | Một số người dựa vào tuổi và các sinh vật hiện diện bên trong nhựa thơm để xác định là hổ phách hay copal. |
Rice (1993) phân biệt một số loại copal từ các vùng địa lý và loại cây khác nhau (trang 222 – 230). Copal Zanzibar từ Đông Phi có thể được sản sinh từ Trachylobium verrucasum (còn được gọi là Hymenaea verrucosa), trong khi copal Kauri từ New Zealand được thành tạo bởi thông Kauri, Agathis australis. Copal Sierra Leone và Congo đều hình thành từ cây họ đậu, Copaifera guibourthiana. Copal Manila, được sinh ra từ các cây trong chi Agathis – cây lá kim, được tìm thấy ở Indonesia và Philippines. Nhựa Dammar được sản xuất bởi các cây họ dầu ở miền Nam Châu Á, tức là Malaya và Sumatra (Rice, 1993, trang 230). Nhiều loại cây nhiệt đới khác nhau, chẳng hạn như Hymenaea courbaril hoặc Hymenae protea, hình thành copal Colombia và Brazil (Rice, 1993, trang 227). “Phân tích phóng xạ carbon của một mẫu copal từ Colombia đã chỉ ra rằng nó có tuổi dưới 250 năm” (Rice, 1993, trang 227). (Còn tiếp)
(Lược dịch bài viết của Susie Ward Aber, Đại học Emporia Bang Emporia, Kansas, Hoa Kỳ)




